Làng An Giạ ta còn lại những gì ???

Làng An Giạ xưa trong ký ức người họa sĩ Đinh Giao Hữu, con cháu làng An Giạ

Từ khi lớn lên biết chơi đùa, đánh bi đánh đáo với bạn bè cùng trang lứa, bắt ve trên hàng dương liễu trước sân đình làng có hai con voi phục, mỗi chiều nhạt nhặt bọn trẻ con chúng tôi hay cởi lên lưng voi như những chiến tướng. Cho đến khi biết yêu thương làng quê, biết cảm nhận được tình quê, biết yêu con đường mòn lối xóm , thương nhớ lũy tre làng chạy dọc bờ sông. Đến bây giờ hơn sáu mươi năm cuộc đời, làng ta còn lại những gì trong ký ức tuổi thơ.

Những đem mùa Đông bên bếp lửa hồng ngồi chăm chú nghe người lớn kể lại rằng, làng ta có cây đa cao ngất trước sân đình, cành lá sum sê rậm rạp, cành đa phủ kín cả sân đình, đêm về nghe nói có một con ma đã biến thành tinh hay ngồi xõa tóc dài đến tận đất, hai con mắt xanh lè, trong trí tưởng tượng của trẻ thơ những chuyện ấy bao giờ cũng có thật, cây đa ấy sau tết thì nở hoa đến tháng tư , khi con chim tu hú gọi bầy đón chào mùa hạ, thì cây đa cho trái chin đỏ rực cả cây, nghe nói rằng đứa con nuôi Ông K nhờ vào trái đa rụng xuống sân đình nhặt ăn mà sống qua ngày. Nhưng làng nằm trong vành đai trắng của cái Bốt lính Tây đóng tại chùa Gia Độ bây giờ, nên cây đa cũng bị triệt hạ, tôi lớn lên không được nhìn thấy cây đa trở thành cổ tích, không được nhìn thấy nhưng qua những câu chuyện kề, đã để lại trong tôi dấu ấn khó phai mờ.

Đình làng có khuôn viên rộng tầm hai sào bắc bộ, chính giữa nền đất đắp cao , có xây móng chung quanh, nền được lát gạch, bàn thờ xây bằng gạch vữa vôi, trước sân có một bình phong, đắp hình mặt rồng ngang gắn mãnh sứ, trước có hai trụ biểu, xây la thành , dưới hai trụ là hai con voi phục, tất cả chỉ có thế, mỗi năm tế lễ có một lần vào ngày rằm tháng sáu âm lịch, lễ vật thường là con gà trống, miệng có ngậm trái ớt đỏ chót, hoặc một cánh hoa vạn thọ, tuổi thơ ngày ấy thích nhất mỗi lần tế lễ có dàn cổ nhạc, thuê từ làng Điếu Ngao, mỗi lần như vậy Mẹ thường thay áo mới theo cha mang lễ vật ra đình gọi là tế Thần Hoàng của làng, dịp này cũng lúc những gia đình khá giả thể hiện sự sung túc giàu có ; có một luật bất thành văn, nhà nào có tang, có người sinh đẻ đang trong tháng thì không được làm lễ cúng, vì sợ làm ô uế chốn linh thiêng. Tất cả vẫn duy trì cho đến tận bây giờ.

Nghệ nhân ngày xưa đắp hình hai con voi phục dáng rất đẹp, nhưng rồi chiến tranh năm 1972 tàn phá quê hương tan nát, hai con voi cũng chung số phận, nghe đâu ngày ấy người ta chôn hai con voi ấy xuống hố bom, lấp lại làm đường, có lẽ trong chiến tranh không ai nghĩ rằng đó là báu vật của làng mà giữ gìn trân quý, khi hòa bình lập lại, tôi trở về không còn hai con voi của thời thơ ấu, những chiều hè còn chút nắng vàng rơi rớt lại, tôi thuờng đúng trước đình làng ngẫn ngơ tiếc rẻ, tần ngần nhớ lại một thuở thiếu thời bắt bướm bẩy chuồn chuồn bằng nhưa cây sầu đông. Xa quê từ mùa Thu trước, đem lòng trở về cách mấy mươi Thu, bạn bè cùng trang lứa rơi rớt như lá mùa Thu , đứa còn, đứa đã ra người thiên cổ, đứa thì phiêu bạt nơi chân trời góc biển, đứng nơi chôn dau cắt rốn mà cảm thấy như người xa lạ. Tôi cúi đầu xuống mà an ủi mình rằng: cuộc đời là bể dâu, vật đổi sao dời. Vì tiếc thương báu vật của tổ tiên, sau này có một vị Thầy tu phát tâm cúng dường hai con voi khác như có hiện giờ, mặc dù không như củ, nhưng đó cũng là một hình ảnh còn sót lại trong niềm tiếc thương vô hạn.

Ngôi Miếu thờ Ngài Thủy Tổ Tiền Khai Khẩn của làng nằm ngay vị trí đẹp nhất, Ông Bà ta chọn địa điểm này rất tốt về mặt phong thủy, ngôi miếu thờ nhìn ra ngã ba hai con sông , Thạch Hãn gặp sông Hiếu trước khi về Cửa Việt chảy ra biển Đông, sông nước hữu tình, nhất là cảnh hoàng hôn khi mặt trời gác núi, đứng nơi đây mà nhìn trời nước như giao hòa thành một, không gian thinh lặng, lòng người vơi bớt đi những cam go khó khăn của cuộc sống, nhất là vào giữa mùa Thu , hơi nước bốc lên môt màn sương mỏng, toàn cảnh chìm vào màn sương như cảnh thần tiên, khí thiêng sông núi hòa quyện vào nơi này, như Anh linh cùa Tổ tiên ngàn đời hiện về đây, đứng trước cảnh này ai mà không bồi hồi xúc động.

Nhưng chính quyền thời ấy buộc làng ta phải di dời ngôi miếu thờ đi nơi khác, để làm cửa hàng mua bán, hay HTX mua bán gì đó,nay là sân ngôi nhà UBND xã, dân làng không ai dám hé nữa lời, cam chịu dời về ngay vị trí bây giờ bên cạnh miếu cô hồn ở cuối làng. Ngôi miếu cổ từ thời xa xưa, có bốn cột, bốn đà ngang dọc, canh vuông chiều dài và rộng khoảng 2 mét, không hiểu sao chú bác không giữ lại, mà thay thế bằng cách xây một ngôi miếu bằng gạch như bây giờ.

Dân ta sống hiền hòa chơn chất, tính khí ôn hòa cam chịu, ai làm gì cũng chịu đựng, đó là bản chất bẩm sinh của tâm hồn những nông dân thuần thục, kỷ năng sống như thế lâu ngày hóa thành bản chất, vậy nên những địa điểm đất vàng của làng, dần dà bị chiếm làm nhà ở cho những người không phải là con dân của làng, thí dụ như khu đất cao ráo và đẹp nhất, từ UB cho đến kiệt nhà Sáo Thỉ. Nếu ở Thành phố người ta gọi là khu đất vàng.

Đôi lúc có dịp về làng, nhìn cảnh cũ người xưa mà ngậm ngùi cay đắng cho số phận dân làng, may sao phúc ấm Tổ Tiên vẫn còn, nay đoạn sông Thạch Hãn chảy qua làng đã bồi đắp trở lại, đó là tín hiệu đáng mừng.

Ngôi Miếu đã bị di dời khỏi vị trí cũ ngày xưa, nơi mà Ông Bà ta đã chọn, một mất mát đáng buồn, đến bây giờ có ai thao thức cho tương lai của làng mới nhớ lại ngôi Miếu của Ngài, đã đi vào dĩ vãng, ghi đậm vào ký ức dân làng không bao giờ phai nhạt.

Con cháu sau này có biết ngày xưa chúng ta có một ngôi Miếu thờ Ngài Tiền Khai Khẩn , nằm một vị trí đẹp nhất làng, nếu nói về phong thủy, đó là một nơi hội thụ khí thiêng của trời đất. Nay đã không còn.
..........................
Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan ( Kiều Nguyễn Du).
Ký ức về làng đã nhạt nhòa trong tâm tưởng của mọi người, một dĩ vãng phai mờ theo dấu chân những bậc cao niên đã về với Ông Bà, những biến cố thì rời rạc, chắp nối không đi theo một trình tự của thời gian, mà những nhân chứng con sót lại thì đếm trên đầu ngón tay, tuổi hạc lại cao, trí nhớ mơ hồ, nên chuyện kể không đầu không đuôi, mốc thời gian bị xáo trộn.
Nói tóm lại làng ta không con gì khả dĩ đễ lưu giữ cho mai sau.
Chỉ còn lại một cái tên LÀNG AN GIẠ , cái tên ấy nó tồn tại từ khi có dấu chân của người xa xứ từ miền Ngoài di cư vào lập Làng, xuyên suốt cho đến tận bây giờ, buổi ban sơ thì truyền miệng, lưu truyền từ đời này đến đời khác, cho đến khi có chữ viết, có văn bản hành chính, mọi giấy tờ đều ghi rõ ràng LÀNG AN GIẠ, mọi người dân còn lưu giữ đã đưa hình ảnh chứng minh.
Ấy vậy mà có người dám đem cái sở học chắp vá, chưa thấu đáo, manh tâm đổi lại tên làng. Tên làng là một nết văn hóa đặc trưng, thuộc phạm trù tâm linh , bất khả tư nghị, không có gì để bàn cải, không đem tên làng ra mà cắt nghĩa vớ vẫn. Chữ Giạ này thoát ra ngoài và trên mọi ý nghĩa , chữ Giạ không phải là đêm, không phải là lòng, như mọi người cố tìm trong tự điển mà giải thích, đúng sai, tất cả là những áp đặt có thể nói là khập khễnh. Ông Bà đã dặt tên là AN GIẠ thì con cháu đời đời cứ y như vậy mà gọi tên, cứ y như vậy ghi chép lại đễ lưu truyền mãi mãi cho muôn đời sau.
Một nỗi đau cứa vào tim rươm máu, cho những ai còn có một chút nặng tình quê.
Tên làng có nguy cơ bị thay đổi vô cớ, không một lý do chính đáng, không có sự đồng thuận của con dân làng An Giạ, thử hỏi có người dân làng An Giạ nào mà không phản ứng quyết liệt. Tình người bị xáo trộn , tâm lý bất an, nội bộ làng chia rẽ, tình làng nghĩa xóm lâu nay bị tổn thương trầm trọng. Tình quê chan chưa bao ân tình sâu nặng, tưong thân tương ái, thương yêu đùm bọc nhau, tự nhiên có một nhóm người khuấy đông lên cho vẫn đục, sóng nổi phong ba , dân làng ngơ ngác, bàng hoàng.
Hơn ai hết, mà chính chúng ta phải kiên quyết không bị lay động trước manh tâm của một nhóm người, muốn chứng tỏ ta đây là người học rộng, thay đổi tên làng ta vốn đã tồn tại qua bao thế hệ, muốn thay đổi nét đặc trưng văn hóa mà Ông Bà truyền thưa lại.
“Đất có lề, quê có thói” mỗi làng quê qua bao đời chắt lọc đã hình thành một nét rất riêng của nó, không ai được phép thay đổi.
Tình yêu về dĩ vãng vốn bẩm sinh trong tâm hồn người Việt, họ thích ôm ấp những kỷ niệm trong lòng, không muốn dùng ngôn ngữ đễ diễn đạt những tình cảm trân quý ấy. Ký ức là nhớ lại, một người không có trí nhớ, hay từ chối dĩ vãng là một người không có bản sắc riêng. Ai cố tình dồn ép quá khứ là người không bình thường, một người trưởng thành mà không có ký ức mãi mãi là trẻ con.
Tên gọi LÀNG AN GIẠ là một ký ức tập thể, nó vượt qua kinh nghiệm sống của một cá nhân, nó hằn sâu, tiêm nhiễm vào một tầng lớp xã hội, nhiều đời, nhiều thế hệ, suốt cả chiều dài lịch sử, và tạo thành một tên rất riêng của làng An Giạ.
Không ai có quyền viết lịch sử của làng bằng suy diễn chủ quan, lịch sử không ngụy tạo ký ức, mà chính ký ức làm nên lịch sử. Sử gia phải đối thoại với nhân chứng, vì nhân chứng biết rõ hơn các biến cố.
Đừng lấy sách vở ra mà ngụy biện, tạo bằng chứng không thưc tế mà dân làng không hề hay biết. Viết lịch sử phải dựa vào thực tế, không đem những điều mơ hồ để chứng minh lịch sử.
Người dân làng An Giạ đã lưu giữ ký ức xa xưa, hơn ai hết chính họ là lịch sử……


Sài Gòn ngày 26/6/2015
Đinh Bá Lộc
trưởng làng An Giạ tại Sài Gòn

Bài viết đòi lại tên làng An Giạ: http://www.dinhthanhhai.com/2015/06/oi-lai-ten-lang-gia.html

...................
VÀI LỜI VỚI CON TRAI LÊ ĐỨC QUẢNG
Bắt đầu nói chuyên chúng ta thiết lập quan hệ tạm thời để tiện việc xưng hô, Bác lớn tuổi hơn Ba, con nên gọi là Bác, còn con thì nhỏ tuổi Bác sẽ gọi là con. Chuyện này không phải là chính trị chính em gì mà nói phe này phe nọ, chúng ta sẽ nói chuyện trên tinh thần đoàn kết và xây dựng, không miệt thị lẫn nhau, Bác nghĩ nói như thế sẽ không đến đâu.
Bác nghĩ rằng, quê hương là những hình ảnh đẹp nhất của một quãng đời đã sống, quê hương còn là những tình yêu thương đằm thắm, không phai nhạt theo thời gian và ngăn cách bởi không gian. Tình yêu quê hương là niềm nhung nhớ khó nguôi ngoai, nhưng không gây ra đau đớn trái lại nó lại làm đẹp cho tâm hồn. người ta còn ví quê hương dạt dào như bầu sữa Mẹ.
Con nói rằng: “ Tại sao tôi phải yêu phải quý cái làng mà chẳng có gì đặc biệt trong tôi ?”. Có phải đây là lỗi của người lớn, đã không đưa con về thăm lại làng quê, nơi Ba con đã gắn bó một thời, chắc chắn Ba con sẽ yêu cái nơi mà con nói chẳng có gì đăc biệt trong con, Bác cũng bỏ làng ra đi lập thân nơi xứ lạ, cháu nội của Bác cũng sinh ra tại Sài Gòn, nhưng cứ ba năm thì ba nó lại cho chúng về thăm quê, bây giớ lớn lên trong tâm trí của nó vẫn thường nhắc nhở đến làng quê, và cứ thế quê hương sẽ gắn bó chúng nó suốt đời.
Con hỏi rằng: “Tại sao tôi phải đứng chung với các anh trong cái danh sách là những người con làng An Dạ hay An Giạ gì đấy”. Có đấy, trong cái danh sách những người con làng An Giạ có tên Ba con và của con, ở đâu con biết không? Ở trong Gia Phả đang thờ tại nhà thờ Phái 2 Họ Lê, không tin con cứ về đó mà mở ra là có ngay mà, có lẽ nào con lại từ chối tên con trong danh sách đó sao?
Câu hỏi tiếp theo này của con, như một vết dao cứa vào tận tâm can của những người con làng An Giạ hay An Dạ. Con hỏi rằng: “Anh tự hào gì về cái làng quê của anh nào ?”.
Tại sao không tự hào nhỉ ! trong mắt con là “cái làng quê bé nhỏ” nhưng tận đáy lòng cùa Ba con và của Bác của tất cả những người con dân làng (trừ con ra nhé) thì đó là mãnh đất rất đỗi thiêng liêng, mọi người ai cũng trân quý, khi ai gọi đến tên làng thì trong lòng tự nhiên trào lên một cảm xúc bồi hồi , xúc động, . Trên đất nước ta đâu cũng có cây đa, bến nước con đò, cũng lũy tre làng, nhưng mỗi nơi mang một sắc thái riêng, mỗi nơi có riêng từng kỷ niệm, chứ làm sao con đánh đồng những hình ảnh này tầm thường quá vậy. Có nhà thơ nói rằng “Đất bỗng hóa tâm hồn” vậy thì hình ảnh quê hương in vào tâm hồn con người mỗi nơi một khác. Còn mồ mã Tổ tiên Ông Bà nằm xuống nơi đây, thì mãnh đất ấy thiêng liêng vô cùng.
Con hỏi như thế là xúc phạm đến lòng tự trong của dân làng , câu hỏi làm tổn thương cho những người con xa quê luôn mang trong mình hình ảnh về quê hương ngoài ấy. Bác tin rằng con dân làng An Dạ hay An Giạ sẽ trả lời cho con.
Con chim có Tổ để quay về, thì con người phải có Tông để tôn thờ cái thâm ân trời biển ấy. Hoc chữ Hán rộng như Ba con, ông ấy thừa nhận thức để hiểu câu thơ : “Nhật mộ hương quan, hà xứ thị” tiếng nói xé lòng của một ngừoi xa xứ, trong bóng chiều tà, lang thang trên đất khách mà không biết quê hương ở nơi nào.
Con biết rằng “cái làng quê bé nhỏ” ấy cũng là một cộng đồng nhỏ của nhân loại, trong nhân loại to lớn mà con đề cập tới, cũng có cái làng quê bé nhỏ này chứ. Con “khát khao tình yêu, sự tim kiếm tri thức và lòng thương xót cho sự đau đớn của nhân loại”. Sao con không tìm cái tri thức về tình yêu quê hương , tri thức về nơi chôn nhau cắt rốn của Ba con. Sao con không xót thương cho sự đau đớn của dân làng An Dạ hay An Giạ, khi con miệt thị và chối bỏ quê hương.
Bác hy vọng con sẽ thành công trong cuộc sống, thực hiện những ước mơ của con, chào con và luôn tiện cho Bác gửi lời thăm Ba Má,
Bác Đinh Bá Lộc ở Sài Gòn.

Nhận xét

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến