Hồi ức về bác Võ Nam Hồng

Hai cha con tìm hoài không ra cuốn sổ hộ khẩu để đi làm chứng minh thư, tìm cả một tập giấy tờ, ba tôi lưu giữ hết mọi thứ. Bất chợt tôi cầm tờ giấy khai sinh của tôi đã rất cũ, mờ đi chữ viết, tờ giấy đã chuyển sang thành màu vàng. Nhìn tờ giấy đọc từng chữ một, phía cuối là chữ ký của bác Võ Nam Hồng. Bao nhiêu cảm xúc ùa về trong tôi, những hình ảnh về bác Nam Hồng bắt đầu hiện dần lên trong tôi. Bác rất giản dị, hiền và khuôn mặt sáng ngời. Mỗi lần ra đường gặp bác tôi đều vòng tay chào bác ạ, bác cười và nói chào cháu ngoan. Bác là người rất yêu con nít, gặp đứa nào bác cũng bồng lên và hôn một cái vào má, mà con nít đứa nào cũng cho bác bồng hết, hình như tất cả đều cảm nhận an toàn bên bác, chẳng đứa nào sợ sệt, hay khóc ré lên cả.

Tờ giấy khai sinh của tôi do bác Võ Nam Hồng ký tên.

Căn nhà của bác nằm sau hàng rào cây dâm bụt, một cái cổng có ghi hàng chữ: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Căn nhà cấp 4 thấp, phía trên lợp mái ngói, đứng ngoài đường nhìn vô chỉ thấy một chút mái che. Trong nhà bác chỉ đôi ba vật dụng nho nhỏ, cái bàn giữa nhà, cái tủ, cái giường. Sau này nhà bác xây lại căn nhà bếp bằng tường xi măng với tạp lô. Từ lúc còn rất nhỏ tôi thường ghé nhà bác, tôi bạn học với Minh là con út của bác. Tôi thấy bác đặt tên cho con thật hay: Ánh Bình Minh. Đặt tên con là cả trăm ngàn gửi gắm vào đó, để mong các con chăm ngoan và sống tốt ngoài xã hội cùng gia đình với người thân. Bác yêu thương ba cô con gái và luôn tự hào: “Đầu lòng 3 ả Tố Nga / Ba chàng công tử để mà kiếp sau”. Cô con gái út của bác là Minh chia sẽ: ” Đối với Minh, ba là ông tiên, là ông bụt. Tuổi thơ của Minh là những câu chuyện cổ tích ba kể hàng đêm trước khi đi ngủ, là được ba dạy học toán, làm văn … Thích thú nhất là phần thưởng cuối tuần được cùng ba lên nương rẫy, được trồng những cây bơ, khoai, sắn, lúa … “

Bác Võ Nam Hồng tên thật là Võ Văn Xích quê ở làng Tân Định, xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Bác sinh năm 1929, cùng gia đình lên sống tại Hướng Hóa năm 13 tuổi và tham gia đội Tự vệ xã Dũng Cảm năm 1945. Theo cuốn Hồi ký về Võ Nam Hồng của tác giả Nguyễn Đình Phục: “Gia đình tôi đến miền quê Hướng Hóa lúc tôi tròn 13 tuổi, trong cảnh núi rừng âm u, trùng điệp, cảnh tượng thật ghê rợn. Lối đi lại chằng chịt cỏ cây, đường 9 lúc ấy đang còn nhỏ. Nhưng mảnh đất này với chất đất Bazan là chủ yếu nên rất thuận lợi cho sự phát triển của cây công nghiệp và nơi đây chứa đựng nhiều tài nguyên giàu có. Mặt khác, với vị trí chiến lược rất quan trọng, thực dân Pháp cho xây dựng một hệ thống đồn điền dày đặc để khai thác tài nguyên, nhân công rẻ mạt”.

Bài viết của chú Phạm Xuân Trường (người Đông Hưng, Thái Bình), bạn tù của bác ở Đảo Phú Quốc đã làm thơ tặng:
“ Nhớ mãi anh Hồng
Tám năm trời tình anh em gắn bó
Phút chia tay thương nhớ vô ngần
Em quen anh trong hoàn cảnh gian truân
Có gian khổ mới hiểu hết lòng anh nhỉ
Thà chịu chết vẫn giữ tròn dũng khí
Nhớ tới anh, em càng cảm phục anh
Đâu có phải anh cho kẹo ngọt quả lành
Mà anh chỉ nhắc nhở trong lẽ sống”

Chú Trần Hữu Thu viết tặng bác Võ Nam Hồng:
“ Anh Hồng!
Người anh em từng nhắc mãi
Tuổi đời dày dặn trong nắng mưa
Thân dày dặn trong 2 thời khói lửa
Giọng ngâm thơ, tiếng hát yêu đời
Dù chìm ngập trong cảnh đầu rơi máu chảy
Anh vẫn lạc quan tin vào thời đại …”

Những ngày tháng sống trong lao tù, bác Võ Nam Hồng đã bị tra tấn nhiều, hàng vết sẹo in trên hai chân của bác là dấu tích của hàng chục chiếc đinh 10 đóng vào xương tủy. Đó cũng là lý do khi trái gió trở trời bác hay đau nhức. Trong phần kết của cuốn hồi ký về Võ Nam Hồng, chú Phục có đoạn viết: “Qua cơn xúc động mãnh liệt của mình, tôi hỏi chú: – khi bị đóng đinh vào tủy, làm sao chú chịu đựng và và vượt qua được? Chú Nam Hồng điềm nhiên đáp: ” Con người sinh ra trên cơ thể ai cũng giống nhau, thịt da chú đâu phải là sắt nhưng chú chịu được bởi có lý tưởng của Đảng soi sáng và tấm lòng yêu nước, thương dân trổi dậy trong lòng chú .

Sau khi được trả tự do, bác Nam Hồng được an dưỡng tại Nam Hà. Sau năm 1975 - 1981, bác Nam Hồng tiếp tục làm việc tại Tỉnh đội Quảng Trị và Cơ quan quân sự Hướng Hóa với vai trò là Trung uý- trợ lý tham mưu. Từ đầu năm 1982 đến năm 1990, bác tiếp tục xây dựng quê hương và giữ những chức vụ như : Bí thư Chi bộ Tân Độ, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND thị trấn  Khe Sanh- Hướng Hóa. Từ 7/1990 đến 1997:  bác là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Trị, Bí thư – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam huyện Hướng Hóa. Ngoài ra, bác cùng gia đình còn tranh thủ đi làm thêm nương rẫy ở khóm 5, đường đi khá xa và phải vượt qua 5 quả đồi núi mới đến. Bác nói tiếng Vân Kiều, Paco như người bản địa. Bà con bản làng ở nơi đây ai cũng quý mến, bác thực sự là người con của núi rừng Hướng Hóa.


Những dòng chữ của bác Võ Nam Hồng nói về Kinh nghiệm của cuộc sống

Năm 1998, sau cơn tai biến nhẹ, bác cũng đã già yếu mới nghỉ ngơi, được gia đình chăm sóc, chữa bệnh. Những lần nghỉ hè trở về thăm Khe Sanh, tôi cũng thường ghé nhà bạn Minh. Bác bị tai biến những vẫn còn nhớ nhiều, thấy bác đi phải chống gậy làm tôi thương bác lắm. Từ khi tôi sinh ra và lớn lên, tôi chưa bao giờ thấy bác nói tiếng to trong gia đình, chưa hề thấy bác cầm cái roi đánh dạy con. Hai bác sau giờ làm việc hay ngày nghỉ thì đi làm nương rẫy, trong khu vườn của bác trồng rất nhiều cây cà phê. Phía trước nhà bác gái bán hàng tạp hóa. Mà công nhận con bác ai cũng thông minh, học giỏi nhất nhì lớp, luôn được thầy cô giáo tin yêu, bạn bè quý. Đặc biệt cả ba cô con gái rượu của bác đều hát rất hay.

Đa phần những người dân quê ngại khi bước chân vô nhà của “cán bộ”, nhưng với bác Võ Nam Hồng cùng gia đình thì không có điều đó, cái mộc mạc, giản dị trong lời nói, ánh mắt đã làm cho bà con gần lại với gia đình bác hơn, không có khoảng cách gì hết. Những đứa trẻ học sinh như tôi vô nhà bác thích lắm, bác gái thì cứ luôn nói: các cháu cứ tự nhiên nghe, ngồi chơi với bạn Minh, bác lui sau vườn mần tý việc …

Bác là một tấm gương cho bao nhiêu người noi theo: sống và làm việc theo lời Bác Hồ dạy để xứng đáng với Tư cách của một người cách mệnh –  Tự mình phải: Cần kiệm – Hoà mình không tư – Cả quyết sửa lỗi mình – Cẩn thận mà không nhút nhát – Hay hỏi – Nhẫn nại (chịu khó) – Hay nghiên cứu, xem xét – Vị công, vong tư – Không hiếu danh, không kiêu ngạo – Nói thì phải làm – Giữ chủ nghĩa cho vững – Hy sinh – Ít lòng tham muốn về vật chất – Bí mật. ” Đối với người phải: ” Với từng người thì khoan thứ – Với đoàn thể thì nghiêm – Có lòng bày vẽ cho người – Trực mà không táo bạo – Hay xem xét người ” Làm việc phải: ” Xem xét hoàn cảnh kỹ càng –  Quyết đoán – Dũng cảm – Phục tùng đoàn thể 

Cô giáo Nguyễn Hạnh (nguyên hiệu trưởng trường cấp 3) chia sẻ: ” Hồi xưa cô cũng có gặp bác Hồng nhưng với tư cách là cô giáo dạy con bác ấy, bác Võ Nam Hồng là người mới gặp cho ta cảm giác mộc mạc dân dã, nhưng rất sâu sắc. Đó là mẫu người cán bộ cộng sản của ngày xưa. ” 
Ngày 17/11/2005, trong đợt rét đậm kéo dài, bác đã mất, trở về cùng với đồng đội mình trên mảnh đất gần Nghĩa trang đường Khe Sanh. Bác đã ra đi mãi, để lại bao nhiêu sự tiếc thương của gia đình, con cái, cùng những người quê hương Khe Sanh. Bác đã một đời cống hiến, xây dựng cho miền quê này ngày một đi lên, vượt qua trăm bề khó khăn: nghèo đói, bệnh tật. Người dân Hướng Hóa mãi ghi nhớ một người cán bộ vì dân vì nước, cả một đời làm cán bộ thanh liêm, “Không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân”. Những người cán bộ được bác chỉ dạy từng tý một về chữ tài, chữ tâm, chữ đức mà người đầy tớ của nhân dân phải có.

Nhà thơ Nguyễn Huỳnh Giang đã viết tặng gia đình cô gái út Ngọc Minh với bài thơ “Em đưa anh về Hướng Hóa” với nhiều ý nghĩa sâu sắc, trong đó có đoạn: “Em đưa anh về thăm Mạ
Một đời vất vả hy sinh
Nhớ thương đằm trọng sợi tóc
Nụ cười nguyên Ánh Bình Minh
Em đưa anh về thăm Bố
Nghĩa trang chiều tím hoa sim
Con đường Bố đi thủa đó
Muôn đời sáng mãi trong tim”

Có lẽ ở nơi xa nào đó, bác Võ Nam Hồng đang mỉm cười vì ba cô con gái rượu của mình, đã chăm ngoan học tập, để bây giờ quay lại phục vụ cho nhân dân, cho đất nước. Chị Ánh con đầu của bác nay làm ở Công an tỉnh Quảng Trị, chị Bình làm ở Huyện ủy Hướng Hóa, Minh làm ở Văn phòng Đảng ủy Đại học Huế. Cứ mỗi khi ngày lễ hay dịp nghỉ cuối tuần, các cô con gái cùng chồng con quây quần bên người mẹ hiền, nhìn đàn cháu nhỏ mà ánh mắt mẹ sáng lên một nụ cười ấm áp. Ánh Bình Minh đã sáng mãi cùng ý niệm của người cha già, một cán bộ Đảng gương mẫu, tận tụy, thanh liêm. Đối với tôi, câu chuyện về cuộc đời bác Võ Nam Hồng như một huyền thoại, để tôi ngẫm nghĩ đến những cán bộ ngày nay và ngày xưa… Đã có những cuộc đời như thế để chúng tôi soi mình.

Sau khi được trả tự do, quá trình công tác của bác Võ Nam Hồng như sau:
+ Năm 1973 – 1974: an dưỡng tại Nam Hà,  Bí thư Chi bộ An dưỡng C3-D1-Đoàn 596.
Từ tháng 3/1974  Trung đội trưởng C1-D1- Quân khu Hữu Ngạn; tháng 8/1974 đến 3/1975: Phó Bí thư Chi bộ, Đại đội trưởng Tỉnh đội.
+ 4/1975 đến 9/1975: Bí thư Chi bộ- Chỉ huy trưởng trại tự hàng binh Tỉnh đội.

+ 10/1975 đến 6/1976: Trung uý- trợ lý Tỉnh đội Quảng Trị.
+ 7/1976 đến 7/1981: Phó Bí thư Chi bộ, Trung uý- trợ lý tham mưu Cơ quan Quân sự Hướng Hóa
+ 8/1981 đến 12/1981: Nghỉ hưu tại Tân Độ- Hướng Hóa.
+ 01/1982 đến 4/1984: Bí thư Chi bộ Tân Độ- Hướng Hóa.
+ 5/1984 đến 6/1990: Phó Bí thư Đảng uỷ,  Chủ tịch UBND TT Khe Sanh- Hướng Hóa.
+ 7/1990 đến 1997: Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binhB tỉnh Quảng Trị, Bí thư – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam huyện Hướng Hóa.
+ 1998: Già yếu, bị tai biến nhẹ. Sinh hoạt đảng tại Đảng bộ TT Khe Sanh- Hướng Hóa- Quảng Trị. Mất năm 2005.

Người con của Khe Sanh
ĐINH THANH HẢI

Nhận xét

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến